|
“Ngài đã dựng nên họ có nam có nữ”
THẦN HỌC VỀ THÂN XÁC CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN-PHAOLÔ II
XXVIII
THÂN XÁC KHÔNG PHỤC TÙNG TINH THẦN
ĐE DỌA SỰ THỐNG NHẤT CỦA CON NGƯỜI – NHÂN VỊ
 1. Chúng ta vẫn đang đọc lại các chương đầu của Sách Sáng thế, để tìm hiểu làm thế nào bởi tội nguyên tổ «con người của dục vọng» lại thay thế «con người của sự trong trắng» nguyên thủy. Những lời St 3,10: «con sợ hãi, vì con trần truồng, và con lẩn trốn» mà chúng ta đã xét đến hai tuần trước đây, minh chứng kinh nghiệm xấu hổ đầu tiên của con người đối với Đấng Tạo Hóa của họ. Đó là một sự xấu hổ cũng có thể gọi là sự xấu hổ «hoàn vũ».
Thế nhưng, sự «xấu hổ hoàn vũ» này – nếu có thể nhận ra được những nét trong toàn thể hoàn cảnh của con người sau phạm tội – trong bản văn Kinh thánh dẫn đến một hình thức xấu hổ khác. Đó là sự xấu hổ sinh ra chính ở nơi nhân tính mà nguyên nhân là do tình trạng vô trật tự tự nơi thẳm sâu của nhân tính ấy. Một nhân tính vốn làm cho con người trong mầu nhiệm tạo dựng như là «hình ảnh của Thiên Chúa», một hình ảnh hệ tại nơi «bản ngã» - vốn là một ngôi vị - của mình cũng như nơi tương quan liên vị nhờ sự hiệp thông các ngôi vị thuở ban đầu được cùng dựng xây bởi người nam và người nữ. Sự xấu hổ ấy phát sinh từ chính nhân tính, vừa nội tại vừa tương đối. Bởi lẽ nó hiển lộ tự bên trong tâm hồn con người, đồng thời lại liên hệ đến «tha nhân». Đó là sự xấu hổ của người phụ nữ «trước» người đàn ông, và cũng là sự xấu hổ của người đàn ông «trước» người phụ nữ. Nỗi xấu hổ trước mặt nhau đó buộc người này phải che phủ cái trần truồng của mình, giấu kín thân thể mình trước người kia; không cho người đàn ông nhìn thấy cái bộ phận là dấu hữu hình của phái nữ, và không cho người phụ nữ nhìn thấy cái là dấu hữu hình của phái nam. Sau khi phạm tội nguyên thủy sự xấu hổ của cả hai người xoay chiều về hướng đó, khi họ nhận ra mình «trần truồng» như St 3,7 xác nhận. Bản văn Giavít xem ra cho thấy cách minh nhiên tính chất «dục tính» của sự xấu hổ ấy: «họ kết lá vả làm khố che thân». Tuy nhiên, chúng ta có thể tự hỏi phải chăng khía cạnh «dục tính» chỉ có đặc tính «tương đối». Nói cách khác, phải chăng sự xấu hổ về tính dục của mình chỉ liên hệ đến con người thuộc giới tính kia.
2. Dưới ánh sáng của câu duy nhất có tính quyết định St 3,7, câu trả lời cho câu hỏi này xem ra ủng hộ trước hết đặc tính tương đối của sự xấu hổ nguyên thủy. Thế nhưng, suy tư về toàn thể bối cảnh trực tiếp giúp ta khám phá ra cái hậu cảnh ẩn sâu hơn của nó. Sự xấu hổ ấy hẳn là hiển lộ ra qua khía cạnh «tính dục» cũng cho thấy nỗi khó khăn đặc biệt trong nhận thức nhân tính cốt yếu của thân xác mình[1]. Con người chưa biết đến kinh nghiệm nhọc nhằn này trong tình trạng trong trắng nguyên thủy. Như thế, những lời: «con sợ hãi, vì con trần truồng» có thể được hiểu như muốn nói lên rõ ràng những hậu quả, là hoa trái trong tâm hồn con người, của cây biết thiện biết ác. Qua những lời đó, người ta thấy có một gãy vỡ căn bản nào đó bên trong nhân vị, gần như sự thống nhất nguyên thủy giữa thân xác và tinh thần con người bị tan vỡ. Lần đầu tiên con người nhận thấy thân xác mình không còn múc lấy được sức mạnh tâm linh vốn có thể nâng thân xác lên cấp độ hình ảnh của Thiên Chúa. Sự xấu hổ nguyên thủy của con người mang những dấu hiệu đặc biệt của một xác thân bị hạ cấp. Ẩn chứa trong đó một mầm mâu thuẫn sẽ bám theo con người «lịch sử» trong suốt cuộc hành trình trần gian, như thánh Phaolô đã viết: «Theo con người nội tâm, tôi vui thích vì luật của Thiên Chúa ; nhưng trong các chi thể của tôi, tôi lại thấy một luật khác: luật này gây chiến với luật của lí trí» ( Rm 7,22-23).
3. Như thế đó hàm ẩn một nội dung bên trong sự xấu hổ ấy. Nó chất chứa một kinh nghiệm đau đớn gây ra một sự bất an nơi sâu thẳm trong toàn bộ cuộc sống nhân sinh, không chỉ vì đối diện với viễn tượng của sự chết, mà còn đối diện với viễn tượng nhờ đó mà nhân vị có giá trị và phẩm giá theo nghĩa đạo đức. Theo nghĩa đó, sự xấu hổ nguyên thủy của thân xác («tôi trần truồng») đã là một nỗi sợ hãi («tôi sợ hãi»), và báo trước một nỗi lo lắng của tâm thức gắn liền với dục vọng. Thân xác, như thế không còn phục tùng tinh thần như trong tình trạng trong trắng nguyên thủy, trở thành một hang ổ thường xuyên phản kháng tinh thần, và cách nào đó đe dọa sự thống nhất của con người – nhân vị, tức là sự thống nhất của bản tính luân lí, vốn bén rễ chắc chắn trong chính cấu trúc nhân vị. Dục vọng, và nhất là dục vọng của tính xác thịt, là một mối đe dọa đặc biệt cho cấu trúc tự sở hữu và tự chủ, là điều mà nhờ đó nhân vị được hình thành. Và nó cũng là một thách thức đặc thù đối với nhân vị. Dù sao đi nữa, con người của dục vọng không làm chủ được thân xác mình theo cùng một cách, cũng đơn sơ và «tự nhiên», như con người vốn đã làm trong tình trạng trong trắng nguyên thủy. Cấu trúc của sự tự chủ, vốn là điểm cốt yếu đối với một nhân vị, bị lung lay cách nào đó tận nền tảng bên trong con người. Con người lại đi tự đồng hóa mình với dục vọng đang khi luôn phải sẵn sàng để chiến thắng nó [2].
4. Sự xấu hổ bên trong gắn liền với sự mất thăng bằng nội tâm đó. Và sự xấu hổ ấy mang đặc tính «tính dục» vì chính lãnh vực tính dục con người như cho thấy rất rõ ràng sự mất thăng bằng đó, một sự thiếu thăng bằng xuất phát từ dục vọng và nhất là từ «dục vọng của tính xác thịt». Từ quan điểm đó, cái xung năng đầu tiên mà St 3,7 nói tới đó («họ thấy mình trần truồng: họ mới kết lá vả làm khố che thân») rất có ý nghĩa. Như thể «con người của dục vọng» (người đàn ông và người phụ nữ «trong hành động nhận biết điều thiện và điều ác») cảm thấy rằng cũng bởi thân xác và giới tính ấy mình đã không còn đứng ở trên thế giới các sinh vật (hay «animalia») nữa. Như thể con người ấy cảm thấy sự toàn vẹn của thân xác nhân vị mình bị gãy vỡ nặng nề, đặc biệt nơi những gì xác định tính dục của nó và những gì liên hệ trực tiếp tới lời mời gọi hợp nhất (người nam và người nữ «sẽ nên một xương một thịt» (St 2,24)). Bởi thế, sự xấu hổ, có tính chất vừa nội tâm vừa liên hệ đến tính dục, luôn tương đối, ít là cách gián tiếp. Đó là sự xấu hổ về tính dục của mình «đối với» con người kia. Sự xấu hổ được biểu lộ trong trình thuật St 3 như thế đó. Bởi thế, chúng ta chứng thực cách nào đó sự khởi sinh của dục vọng con người. Thế nên, từ những lời của Đức Kitô nói về người (đàn ông) kẻ «nhìn một người phụ nữ mà thèm muốn» (Mt 5,27-28) chúng ta đi ngược lên khởi điểm lúc mà sự xấu hổ được lí giải bởi dục vọng, và dục vọng được giải thích bởi sự xấu hổ, là có lí do khá rõ ràng. Như thế chúng ta hiểu rõ hơn tại sao - và theo nghĩa nào – mà Đức Kitô nói về sự thèm muốn như một tội «ngoại tình» phạm trong lòng, bởi nó liên hệ tới «cõi lòng» con người.
5. Con người cùng lúc có trong lòng mình sự thèm muốn và sự xấu hổ. Sự xấu hổ nảy sinh trong lòng đã hướng con người đến chỗ con người nội tâm, tức «cõi lòng» mở cửa cho những «sự thế gian» đến mà khép lại với những gì «đến từ Chúa Cha». Sự xấu hổ nảy sinh trong lòng con người cùng song hành với sự phát khởi dục vọng – một dục vọng có ba mặt theo thần học Gioan (x.1Ga 2,16), và nói riêng là dục vọng của tính xác thịt. Con người xấu hổ về xác thân mình là bởi dục vọng. Đúng hơn, không xấu hổ nhiều về thân xác mình cho bằng về chính dục vọng: xấu hổ về thân xác bởi chính dục vọng. Con người xấu hổ về thân xác là bởi tình trạng tinh thần của mình, tình trạng mà thần học và tâm lí học gọi cùng một tên, đó là dục vọng hay thèm muốn, dẫu với ý nghĩa không hoàn toàn như nhau. Ý nghĩa thánh kinh và thần học của dục vọng hay thèm muốn khác với ý nghĩa được dùng trong tâm lí học. Đối với tâm lí học, thèm muốn phát xuất từ một nhu cầu, một thiếu thốn được coi như là giá trị cần phải được thỏa mãn. Còn dục vọng theo Kinh thánh, như trích từ đoạn 1Ga 2,16, muốn nói đến tình trạng tinh thần con người đã xa rời sự đơn sơ nguyên thủy và các giá trị viên mãn, mà con người và thế giới này có trong «tầm vóc của Thiên Chúa». Chính nét đơn sơ ấy cũng như giá trị viên mãn của thân xác con người trong kinh nghiệm đầu tiên về giới tính nam nữ mà St 2,23-25 nói tới, sau đó phải chịu một biến chuyển hoàn toàn theo «đường lối của thế gian». Thế là, cùng với dục vọng tính xác thịt sinh ra sự xấu hổ.
6. Xấu hổ có hai ý nghĩa: nó ám chỉ sự đe dọa giá trị và đồng thời bảo vệ giá trị đó trong nội tâm [1]. Cõi lòng con người kể từ khi nảy sinh trong đó dục vọng xác thịt cũng mang cả nỗi xấu hổ. Sự kiện ấy cho thấy rằng người ta có thể và phải liên hệ tới nội tâm khi muốn bảo đảm các giá trị ấy, những giá trị mà dục vọng đã cướp đi mất chiều kích nguyên thủy và viên mãn của chúng. Ý thức điều ấy, ta có thể hiểu rõ hơn tại sao Đức Kitô nói tới «tâm hồn» con người khi đề cập đến dục vọng.
----------------------------------------
[1] X. X. Carlo wojtyŁa, Amore e responsabilità, Torino 19782, ch. «Metafisica del pudore», 161-178.
XXIX
Ý NGHĨA CỦA SỰ XẤU HỔ NGUYÊN THỦY
TRONG TƯƠNG QUAN LIÊN VỊ NAM – NỮ
1. Khi nói đến sự khai sinh của dục vọng trong con người, trên nền tảng sách Sáng thế, chúng ta đã phân tích ý nghĩa nguyên thủy của sự xấu hổ, vốn là điều đã xuất hiện cùng với tội đầu tiên. Phân tích sự xấu hổ, dưới ánh sáng của trình thuật Kinh thánh, giúp ta hiểu sâu xa hơn ý nghĩa của nó đối với toàn thể mối quan hệ liên vị nam-nữ. Chương ba của Sáng thế cho thấy rõ ràng rằng sự xấu hổ ấy đã xuất hiện trong mối quan hệ hai chiều của người đàn ông với người phụ nữ, và và mối quan hệ ấy đã phải chịu một biến chuyển hoàn toàn bởi sự xấu hổ mà ra. Sự xấu hổ ấy phát sinh trong lòng họ cùng với dục vọng xác thịt. Bởi thế, phân tích sự xấu hổ nguyên thủy cũng đồng thời giúp ta khảo sát dục vọng ấy còn có thể tương quan như thế nào với sự hiệp thông các ngôi vị. Sự hiệp thông ấy từ thuở ban đầu vốn đã được ban cho và trao phó như một nhiệm vụ cho người nam và người nữ bởi họ đã được tạo dựng «theo hình ảnh của Thiên Chúa». Thế nên, bước kế tiếp của việc nghiên cứu về dục vọng, mà từ «thuở ban đầu» nó được biểu lộ ra qua sự xấu hổ của người đàn ông và người phụ nữ theo St 3, là phân tích tình trạng không thỏa mãn trong sự kết hợp, nghĩa là trong sự hiệp thông các ngôi vị. Một sự hiệp thông vốn cũng phải được diễn tả qua thân xác hợp với nam tính và nữ tính của con người.
2. Theo trình thuật Kinh thánh, sự xấu hổ này khiến cho người nam và người nữ phải che phủ thân xác mình trước người kia, và nhất là phải giấu kín cái cơ quan xác định giới tính khác nhau của họ. Sự xấu hổ này xác nhận cái khả năng tự thông giao cho nhau thuở ban đầu (điều mà St 2,25 nói tới) đã bị đỗ vỡ. Ý nghĩa của sự trần truồng nguyên thủy thay đổi hoàn toàn làm cho toàn thể mối tương quan liên vị nam-nữ biến đổi theo chiều hướng tiêu cực. Sự hiệp thông với nhau trong chính nhân tính nhờ thân xác và giới tính nam và nữ (hay được nói đến trong đoạn văn trước thuộc trình thuật Giavit x. St 2,23-25) giờ đây bị đảo lộn. Như thể là thân xác, với giới tính nam và nữ của nó, không còn là nền móng «đáng tin cậy» cho sự hiệp thông các ngôi vị nữa, như thể là chức năng nguyên thủy của nó đã trở nên «đáng ngờ vực» trong tâm thức của người nam và người nữ. Sự đơn sơ và «tinh tuyền» của kinh nghiệm nguyên thủy, vốn giúp con người thông giao với nhau hết sức trọn vẹn, nay không còn nữa. Dĩ nhiên, nguyên tổ chúng ta vẫn không ngừng thông giao với nhau qua thân xác và các hành động, cử chỉ, biểu lộ bên ngoài của họ; thế nhưng sự hiệp thông với nhau, trực tiếp và đơn sơ gắn với kinh nghiệm trần truồng nguyên thủy, thì không còn nữa. Trong tâm thức của họ thình lình xuất hiện một ngưỡng điểm biên giới không vượt qua được. Nó giới hạn lại sự «hiến thân» cho tha nhân của tình cảnh thuở ban đầu khi con người còn tin tưởng hoàn toàn những gì làm nên căn tính (đồng nhất tính) riêng, và đồng thời, nét khác biệt (dị biệt tính) về giới tính nam và nữ của mình. Bỗng nhiên con người cảm thấy và hiểu sự dị biệt hay khác biệt phái tính giữa nam và nữ trở thành như một sự đối đầu trước mặt nhau. Điều đó được xác nhận bởi câu nói vắn gọn St 3,7 : «Họ nhận biết mình trần truồng», và bởi văn mạch trực tiếp của câu nói ấy. Tất cả điều này cũng là một phần của phân tích sự xấu hổ đầu tiên. Sách Sáng thế không chỉ phác họa nguồn gốc của sự xấu hổ ở nơi con người nói chung nhưng còn cho thấy những mức độ của nó nơi cả người nam và người nữ.
3. Tình trạng khả năng hiệp thông trọn vẹn với nhau mất đi bộc lộ ra nơi sự xấu hổ về tính dục. Điều đó cho ta hiểu rõ hơn giá trị thuở ban đầu của ý nghĩa kết hợp của thân xác. Thật thế, làm sao người ta có thể hiểu khác đi sự kép kín riêng đó của mỗi người (tức là sự xấu hổ), nếu không liên hệ đến ý nghĩa của thân xác đã có trước đó trong tình trạng trong trắng nguyên thủy. Ý nghĩa kết hợp đó cần phải hiểu không chỉ liên hệ tới mặt phối hợp nam nữ như vợ chồng khi họ kết hợp với nhau nên «một xương một thịt» (St 2,24) bởi hành động phối ngẫu phu thê; nhưng còn liên hệ đến chính sự «hiệp thông các ngôi vị» vốn là chiều kích riêng của cuộc sống người nam và người nữ trong mầu nhiệm tạo dựng. Thân xác với giới tính nam hay nữ của nó vốn là «tầng nền tảng» đặc thù của sự hiệp thông ngôi vị ấy. Sự xấu hổ về tính dục, mà St 3,7 nói tới, xác nhận niềm tin tưởng chắc chắn vốn coi thân xác con người nhờ giới tính nam-nữ của nó chính là «nền tảng» của sự hiệp thông các ngôi vị, đã mất mát. Thân xác ấy vốn diễn tả ngôi vị «cách đơn sơ», phục vụ cho sự thực hiện nhân vị (và như thế nó còn phục vụ cho sự hoàn thành «hình ảnh của Thiên Chúa» trong thế giới hữu hình). Trạng thái tâm thức này của cả hai người có những phản hồi mạnh mẽ trong văn mạch sau đó ở St 3 mà chúng ta sắp đề cập tới. Nếu con người sau khi phạm tội đầu tiên đã đánh mất, có thể nói là, cái cảm thức về hình ảnh Thiên Chúa nơi bản thân mình, thì điều đó được biểu lộ ra qua sự xấu hổ của thân xác (x. nhất là St 3,10-11). Sự xấu hổ xâm nhập vào trong toàn thể mối quan hệ nam-nữ và nó biểu lộ cái ý nghĩa ban đầu của sự hợp nhất xác thân (một thân xác vốn là «cơ sở» (tầng nền tảng) đặc thù của sự hiệp thông các ngôi vị) nay đã bị mất cân bằng. Điều đó được nhận thấy qua sự kiện diện mạo nhân vị của giới tính trước kia vốn diễn tả minh nhiên ý nghĩa của thân xác là dành cho sự hiệp thông ngôi vị, nay chỉ còn nhằm tìm cảm giác «dục tính» do người khác mang lại. Và tính dục trở thành như một «trở ngại» cho mối tương quan liên vị nam nữ. Cả hai người vừa che đậy trước mặt nhau, theo như St 3,7, vừa biểu lộ nó gần như theo bản năng.
4. Đồng thời, đây như là sự khám phá thứ hai về giới tính mà theo trình thuật Kinh thánh nó hoàn toàn khác với khám phá đầu tiên. Toàn thể bối cảnh của trình thuật xác nhận rằng khám phá mới này phân biệt con người «lịch sử» đầy dục vọng với con người trong trắng nguyên thủy. Dục vọng, nhất là dục vọng xác thịt, có quan hệ như thế nào với sự hiệp thông ngôi vị qua thân xác, thân xác của người nam và của người nữ (một sự hiệp thông mà Đấng Tạo Hóa «từ thuở ban đầu» đã ủy thác cho con người) ? Đó là câu hỏi cần phải đặt ra liên hệ trực tiếp đến «thuở ban đầu» về kinh nghiệm sự xấu hổ mà Kinh thánh nói tới. Như chúng ta đã thấy, sự xấu hổ bộc lộ trong trình thuật St 3 như là triệu chứng của tình trạng con người đã tự tách lìa mình khỏi tình yêu mà nó vốn được tham dự trong mầu nhiệm tạo dựng như Gioan đã diễn tả: đó là tình yêu «phát xuất từ Chúa Cha». «Những gì ở trong thế gian», tức dục vọng, tự nó có một nỗi khó khăn căn bản, đó là nỗi khó khăn về sự đồng nhất[3] (hay thống nhất) với chính thân xác mình. Điều đó xảy ra không chỉ trong chính chủ thể của mình, mà hơn nữa còn liên hệ tới chủ thể tính của tha nhân kia. Khó khăn của người đàn bà trong tương quan với người đàn ông, và của người đàn ông trong tương quan với người đàn bà.
5. Thế nên, người ta phải che dấu mình với thân xác của mình đứng trước «người khác», che dấu đi cái phần làm cho mình là đàn ông/đàn bà. Sự cần thiết phải che dấu như vậy cho thấy về căn bản con người thiếu mất sự tin cậy lẫn nhau, tự điều đó cho thấy mối tương quan «hiệp thông» thuở ban đầu đã sụp đổ. Chính cái nhìn về tha nhân kia, và đồng thời về chính mình trong hoàn cảnh mới của dục vọng thống lĩnh, đã khơi lên cái đòi hỏi phải che thân, điều St 3,7 nói tới.
Và chính ở đây dường như chúng ta khám phá lại được một ý nghĩa sâu xa hơn của sự xấu hổ về «dục tính» và cả ý nghĩa đầy đủ của hiện tượng mà Kinh thánh nhắc đến để làm sáng tỏ đường biên giữa con người trong trắng nguyên thủy và con người «lịch sử» đầy dục vọng. Bản văn đầy đủ St 3 cho ta những yếu tố để xác định chiều kích sâu xa hơn của sự xấu hổ. Việc đó đòi phải có một bài phân tích riêng. Chúng ta sẽ làm trong suy tư lần tới.
Louis Nguyễn Anh Tuấn chuyển dịch
[1] «Nhân tính cốt yếu của thân xác mình» phải được hiểu như là điều mà nhờ đó thân xác con người là người và như thế có nghĩa là thân xác biểu lộ nhân vị, thân xác mang tính ngôi vị.
[2] Sự tự chủ, vốn là khả năng đưa thân xác hội nhập vào ngôi vị, trở nên một nhiệm vụ thường xuyên. Nó không còn chỉ đơn giản là một dữ kiện.
[3] Sự thiếu thống nhất của thân xác diễn tả ngôi vị chính là hệ quả của dục vọng.
|