Năm Thánh Linh Mục với giới Hiền Mẫu

 

NĂM THÁNH LINH MỤC VỚI GIỚI HIỀN MẪU
[ CHỦ ĐỀ NGÀY TĨNH HUẤN ]
 
PHẦN THỨ NHẤT 
CHỦ ĐỀ NGÀY TĨNH HUẤN
«NĂM THÁNH LINH MỤC VỚI GIỚI HIỀN MẪU»
I. CẦU NGUYỆN MỞ ĐẦU
1.1 Gợi ý: Trong buổi tiếp kiến chung dành cho 30 ngàn tín hữu hành hương sáng thứ tư, 24.6.2009, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã giải thích về ý nghĩa Năm Linh Mục nhu sau:
“Thứ sáu vừa qua, lễ trọng kính Thánh Tâm Chúa Giê-su, một ngày theo truyền thống vẫn được dành để cầu nguyện cho sự thánh hóa các linh mục, đã đánh dấu khởi đầu Năm Linh Mục, kỷ niệm 150 năm qua đời của thánh Gio-an Ma-ri-a Vi-an-ney, cha sở họ Ars, bổn mạng các cha sở. Năm Thánh Phao-lô sắp kết thúc và Năm Linh Mục hiện nay mời gọi chúng ta hãy để ý xem Thánh Phao-lô Tông Đồ và cha sở khiêm hạ của giáo xứ Ars đã hoàn toàn đồng hóa với sứ vụ của các vị thế nào, bằng cách cố gắng sống trong sự hiệp thông liên lỷ với Chúa Ki-tô. Ước gì Năm Linh Mục này giúp tất cả các linh mục tăng trưởng, tiến tới sự trọn lành thiêng liêng vốn là điều thiết yếu để sứ vụ của các vị được hữu hiệu và giúp các tín hữu ngày càng quí chuộng hoàn toàn hồng ân cao cả của chức linh mục: đối với chính các linh mục, Giáo Hội và cho thế giới chúng ta. Được trở nên đồng hình dạng với Chúa Ki-tô trong bí tích Truyền Chức Thánh, linh mục được mời gọi trở thành Alter Christus, Chúa Ki-tô thứ hai. Vì thế, sự kết hiệp bản thân với Chúa phải thống nhất mọi khía cảnh của đời sống và hoạt động linh mục. Trong Năm Linh Mục này, chúng ta hãy phó thác tất cả các linh mục cho Mẹ Ma-ri-a, là Mẹ Giáo Hội và cầu nguyện để các linh mục được tăng trưởng trong lòng trung thành với sứ vụ trở thành những dấu chỉ sống động về sự hiện diện và lòng từ bi vô biên của Chúa Ki-tô.”
Hôm  nay Giới Hiền Mẫu (nêu tên Giáo Xứ/Giáo Hạt/Giáo Phận) tổ chức buổi Tĩnh Huấn  với chủ đề:
NĂM THÁNH LINH MỤC VỚI GIỚI HIỀN MẪU 
 
Nhằm hưởng ứng sáng kiến và lời mời gọi của Vị Cha Chung của Giáo Hội Công Giáo toàn cầu.
Để đi vào chủ đề ngày sinh hoạt, chúng ta hãy đặt mình dưới sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần khi hát bài «Xin  Ngôi Ba Thiên Chúa», rồi lắng nghe các tường thuật của Phúc Âm về việc Chúa Giê-su gọi và chọn các tông đồ. Sau đó chúng ta sẽ dâng lên Thiên Chúa là Cha những lời cầu nguyện của chúng ta.
 
1.2 Hát:  XIN NGÔI BA THIÊN CHÚA
ĐK: Xin Ngôi Ba Thiên Chúa ngự xuống trên chúng con. Ban hồng ân chan chứa / thấm nhuần hồn xác chúng con. Biến chúng con thành những dũng sĩ theo Chúa Ki-tô, thành nhân chứng Nước Trời cho muôn người trong khắp nơi.
PK 1: Nguyện Chúa Thánh Thần xin ngự đến. Lòng vạn lòng đợi trông Ngài soi sáng. Và luyện lọc hầu mong được xứng đáng với danh hiệu Đền Thánh Chúa cao quang.
PK 2: Nguyện Chúa Thánh Thần xin ngự đến. Ngài là niềm ủi an kẻ than khóc. Là nguồn mạch tràn lan mọi ơn phúc, suối êm dịu hàn gắn những thương đau.
1.3 Nghe Lời Chúa:
(a) Chúa Giê-su gọi bốn môn đệ đầu tiên:
«Người đang đi dọc theo biển hồ Ga-li-lê, thì thấy ông Si-môn với người anh là ông An-rê, đang quăng lưới xuống biển, vì họ làm nghề đánh cá. Người bảo họ: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá.” Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người.
«Đi xa hơn một chút, Người thấy ông Gia-cô-bê, con ông Dê-bê-đê, và người em là ông Gio-an. Hai ông này đang vá lưới ở trong thuyền. Người liền gọi các ông. Và các ông bỏ cha mình là ông Dê-bê-đê ở lại trên thuyền với những người làm công, mà đi theo Người» (Mc 1,16-20).
(b) Chúa Giê-su gọi Lê-vi (tức Mát thêu) người thu thuế:
«Đức Giê-su lại đi ra bờ biển hồ. Toàn thể dân chúng đến với Người, và Người dạy dỗ họ. Đi ngang qua trạm thu thuế, Người thấy ông Lê-vi là con ông An-phê, đang ngồi ở đó. Người bảo ông: “Anh hãy theo tôi!” Ông đứng dậy đi theo Người» (Mc 2,13-14).
(c) Chúa Giê-su lập Nhóm Mười Hai:
«Rồi Người lên núi và gọi đến với Người những kẻ Người muốn. Và các ông đến với Người. Người lập Nhóm Mười Hai, để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng,  với quyền trừ quỷ.  Người lập Nhóm Mười Hai và đặt tên cho ông Si-môn là Phê-rô,  rồi có ông Gia-cô-bê con ông Dê-bê-đê, và ông Gio-an em ông Gia-cô-bê -Người đặt tên cho hai ông là Bô-a-nê-ghê, nghĩa là con của thiên lôi -, rồi đến các ông An-rê, Phi-líp-phê, Ba-tô-lô-mê-ô, Mát-thêu, Tô-ma, Gia-cô-bê con ông An-phê, Ta-đê-ô, Si-môn thuộc nhóm Quá Khích,  và Giu-đa Ít-ca-ri-ốt là chính kẻ nộp Người » (Mc 3, 13-19).
 1.4 Câu nguyện với Lời Chúa:
- Cầu nguyện (1) : Lạy Thiên Chúa là Cha của Đức Giê-su và là Cha của chúng con, chúng con cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Cha, vì Cha đã sai Con Cha xuống thế làm người, thực hiện công cuộc cứu độ nhân loại. Chúa Giê-su Con Cha đã gọi và chọn những con người bình thường là Phê-rô, An-rê, Gio-an và Gia-cô-bê để họ cộng tác với Người, tiếp nối công cuộc trọng đại của Người. Qua các thời đại, Người vẫn gọi, vẫn chọn những con người giống như các tông đồ xưa là các giám mục và linh mục. Xin Cha chúc lành cho những người đã được Con Cha gọi và chọn vào hàng tư tế. Chúng con xin nhờ danh Chúa Giê-su Ki-tô, Con Cha, Chúa chúng con.
Tất cả : Amen.   
 - Cầu nguyện (2) :  Lạy Thiên Chúa là Cha của Đức Giê-su và là Cha của chúng con, chúng con cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Cha, vì Cha đã sai Con Cha xuống thế làm người, thực hiện công cuộc cứu độ nhân loại. Chúa Giê-su Con Cha đã gọi và chọn ngay cả một người như Lê-vi là nhân viên thu thuế, người mà cả xã hội Do Thái lên án và loại trừ. Trong bàn tay của Cha và của Thánh Thần Cha, không có con người nào là đồ bỏ, không có một ai là kẻ vô tích sự cả. Mát-thêu đã để lại cho Hội Thánh và nhân loại một công trình vô cùng giá trị: «Tin Mừng Chúa Giê-su theo Thánh Mát-thêu!» Xin Cha hãy hành động nơi và qua các linh mục mà Con Cha đã gọi và chọn, để thế gian được chứng kiến tình thương và quyền năng của Cha. Chúng con xin nhờ danh Chúa Giê-su Ki-tô, Con Cha, Chúa chúng con.
Tất cả : Amen.   
- Cầu nguyện (3) :Lạy Thiên Chúa là Cha của Đức Giê-su và là Cha của chúng con, chúng con cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Cha, vì Cha đã sai Con Cha xuống thế làm người, thực hiện công cuộc cứu độ nhân loại. Chúa Giê-su Con Cha đã liên kết những người được gọi và chọn thành một Nhóm, một cộng đoàn tông đồ. Chúa Giê-su đòi họ phải sống gắn bó mật thiết với Người và phải để Người sai đi. Xin Cha ban Thần Khí của Cha cho các linh mục để các ngài được nên một với Chúa Giê-su Con Cha và sống chết với sứ mạng loan báo Tin Mừng của Người! Chúng con xin nhờ danh Chúa Giê-su Ki-tô, Con Cha, Chúa chúng con.
Tất cả : Amen.   
II. VÀO ĐỀ
Để giúp chúng ta đi vào Chủ Đề của Ngày Tĩnh Huấn (tĩnh tâm và học hỏi), tôi xin được phép hỏi các Bà các Chị Hiền Mẫu có mặt nơi đây:
«Các Bà các Chị có ước mong gì nơi các linh mục nói chung, nơi các cha xứ/cha phó nói riêng?»
[Dành thời gian cho các Bà các Chị phát biểu)
Trước khi nghe các Bà các Chị nói về mong ước của mình nơi các linh mục, tôi đã đọc được một bài báo mang tựa đề
NHỮNG ĐIỀU GIÁO DÂN MONG ƯỚC
NƠI NGƯỜI LINH MỤC NGÀY NAY,
của một người ký tên là Thanh Minh, sống ở Thanh Hóa. Bài này được viết trong ngày khai mạc NĂM LINH MỤC và được đăng tải trên thanh linh.net trong mục “NĂM LINH MỤC” Tôi xin phép nêu lên đây những mong ước của tác giả Thanh Minh nơi các linh mục ngày nay:
Đời sống thánh thiên, kết hợp với Đức Giê-su Ki-tô.
Siêng năng ngồi tòa giải tội.
Tham dự các giờ kinh chung với cộng đoàn.
Không dùng các bí tích để khống chế giáo dân.
Không chửi mắng giáo dân.
Không biến thánh lễ thành nơi thông báo nhiều thứ.
Dùng tình thương khi phân xử.
Phục vụ chứ không cai trị.
Không trọng người giàu hơn người nghèo.
Ưu tiên phục vụ người nghèo.
Sống đơn sơ khó nghèo và biết cho đi.
Tôn trọng người cộng tác với mình.
Biết lắng nghe ý kiến xây dựng từ mọi phía.
Vâng phục và thực thi ý muốn của Đức Giám Mục.
Không ngừng trau giồi kiến thức đạo đời.
Sống tình huynh đệ, hiệp thông với anh em linh mục đoàn.
Đứng đắn và tôn trọng khi giao tiếp với người khác phái.
Viếng thăm các gia đình vào dịp tết, ma chay cưới hỏi hay ốm đau.
Không tìm tiền bạc tiện nghi sang trọng cho mình.
Có lòng chung với giáo phận, giáo xứ.
Quân bình trong đời sống tình cảm.
Quan tâm nâng đỡ ơn gọi tận hiến.
Giúp đỡ các trẻ em nghèo hiếu học.
Kính trọng linh mục già nua tuổi tác.
Chuẩn bị phụng vụ chu đáo. Dọn bài giảng cẩn thận.
Suy niệm Lời Chúa mỗi tối trước khi đi ngủ.
Không tự mãn, kiêu căng khi được Bề Trên tin tưởng giao phó nhiều việc.
Thông cảm và chia sẻ với anh em mỗi khi họ lầm lỗi.
Biết vị trí và khả năng của mình chứ đừng ảo tưởng.
Trân trọng và biết giữ gìn những di sản của các vị tiền nhiệm.
Luôn tìm ý Chúa để thực thi và làm vinh danh Chúa, Giáo Hội.
BIẾT MÌNH ĐỂ SỐNG TỐT HƠN.
III. TRIỂN KHAI CHỦ ĐỀ
3.1 Phân tích và tổng hợp các mong ước của giáo dân nơi các linh mục ngày nay
Nếu chúng ta phân tích và tổng hợp các ước mong trong bài NHỮNG ĐIỀU GIÁO DÂN MONG ƯỚC NƠI NGƯỜI LINH MỤC NGÀY NAY thì chúng ta có thể sắp xếp các mong ước ấy vào bốn mối tương quan sau đây của các linh mục:
1./ Tương quan của các linh mục với Thiên Chúa
- Đời sống thánh thiên, kết hợp với Đức Giê-su Ki-tô.
- Luôn tìm ý Chúa để thực thi và làm vinh danh Chúa, Giáo Hội.
2./ Tương quan của các linh mục với người khác
a- Với Giám Mục và giáo phận
- Vâng phục và thực thi ý muốn của Đức Giám Mục.
- Có lòng chung với giáo phận, giáo xứ.
b- Với các linh mục
- Trân trọng và biết giữ gìn những di sản của các vị tiền nhiệm.
- Kính trọng linh mục già nua tuổi tác.
- Sống tình huynh đệ, hiệp thông với anh em linh mục đoàn.
- Thông cảm và chia sẻ với anh em mỗi khi họ lầm lỗi.
c- Với giáo dân
- Ưu tiên phục vụ người nghèo.
- Không trọng người giàu hơn người nghèo.
- Quan tâm nâng đỡ ơn gọi tận hiến.
- Giúp đỡ các trẻ em nghèo hiếu học.
- Tôn trọng người cộng tác với mình.
- Biết lắng nghe ý kiến xây dựng từ mọi phía.
- Viếng thăm các gia đình vào dịp tết, ma chay cưới hỏi hay ốm đau.
- Không chửi mắng giáo dân.
3./ Tương quan của các linh mục với chính mình.
- Không tự mãn, kiêu căng khi được Bề Trên tin tưởng giao phó nhiều việc.
- Biết vị trí và khả năng của mình chứ đừng ảo tưởng.
- Không ngừng trau giồi kiến thức đạo đời.
- Sống đơn sơ khó nghèo và biết cho đi.
- Dùng tình thương khi phân xử.
- Phục vụ chứ không cai trị.
- Biết mình  để sống tốt hơn.
4./ Tương quan của các linh mục với các công việc của linh mục
- Chuẩn bị phụng vụ chu đáo.
- Dọn bài giảng cẩn thận.
- Suy niệm Lời Chúa mỗi tối trước khi đi ngủ.
- Siêng năng ngồi tòa giải tội.
- Tham dự các giờ kinh chung với cộng đoàn.
- Không biến thánh lễ thành nơi thông báo nhiều thứ.
- Không dùng các bí tích để khống chế giáo dân.
3.2 Các linh mục có quyền mong đợi gì ở giáo dân nói chung, ở các hiền mẫu nói riêng?
Nếu giáo dân có quyền mong ước những điều tốt lành ở các linh mục thì các linh mục cũng có quyền chờ đợi những điều tương tự ở giáo dân nói chung và ở hiền mẫu nói riêng. Nói cách khác, giáo dân nói chung và hiền mẫu nói riêng nên/phải làm gì cho các linh mục, nhất là trong Năm Thánh Linh Mục này? Sau đây là những việc mà tôi cho là giáo dân nói chung và hiền mẫu nói riêng có thể và phải làm cho các linh mục của mình:
1./ Kính trọng, yêu mến và cảm thông
Điều mong đợi đầu tiên mà các linh mục đặt nơi giáo dân nói chung và nơi các hiền mẫu nói riêng là sự kính trọng, yêu mến và cảm thông. Đó cũng là điều đầu tiên mà giáo dân nói chung và hiền mẫu nói riêng có thể và phải làm cho các linh mục.
- Kính trọng: Linh mục cần được giáo dân kính trọng để dễ chu toàn trách nhiệm cao cả của mình hơn. Trước hết giáo dân kính trọng các linh mục là kính trọng bí tích truyền chức thánh và nhiệm vụ giảng dậy, thánh hóa và quản trị mà các linh mục đã được Thiên Chúa và Hội Thánh giao cho. Kế đến giáo dân kính trọng các linh mục là kính trọng thiện chí và những cố gắng liên lỉ của các ngài nhằm chu toàn sứ mạng đã lãnh nhận. Sau cùng giáo dân kính trọng các linh mục vì các ngài là tấm gương sáng về đời sống tâm linh và tinh thần hy sinh phục vụ Thiên Chúa, Hội Thánh và con người.
- Yêu mến: Linh mục cần được giáo dân yêu mến để luôn được nâng đỡ trong khi thi hành sứ mạng của người mục tử. Trước hết giáo dân yêu mến các linh mục là yêu mến người đã được Thiên Chúa gửi đến cho mình, lo cho phần rỗi của mình. Kế đến giáo dân yêu mến các linh mục là yêu mến người đã vì mình mà không quản ngại hy sinh, chiến đấu để sống thánh thiện đáp ứng kỳ vọng và đòi hỏi chính đáng của giáo dân. Sau cùng giáo dân yêu mến các linh mục vì các ngài có nhiều điều đáng mọi người yêu mến.
- Cảm thông: Linh mục mục cần được giáo dân thông cảm, vì dù đã cố gắng hết sức mình thì linh mục cũng còn những thiếu sót, giới hạn và yếu đuối của một con người. Thánh Phao-lô nói Thiên Chúa đặt “kho tàng quý giá trong chiếc bình sành dễ vỡ” là ngài có ý ám chỉ sự giòn mỏng, mong manh của thân phận con người.  
2./ Hưởng ứng, cộng tác và giúp đỡ một cách chân thành và bất vụ lợi
Điều mong đợi thứ hai mà các linh mục đặt nơi giáo dân nói chung và các hiền mẫu nói riêng là sự giúp  đỡ, cộng tác và hưởng ứng một cách chân thành và bất vụ lợi. Đó cũng là điều thứ hai mà giáo dân nói chung và hiền mẫu nói riêng có thể và phải làm cho các linh mục.
- Hưởng ứng: Với trọng trách là chủ chăn và trong bối cảnh của Giáo Hội Việt Nam trong đó các linh mục là những người được huấn luyện đầy đủ hơn giáo dân bội phần nên hầu như mọi việc liên quan tới đời sống giáo xứ đều xuất phát từ các linh mục. Nói cách khác linh mục chính phó xứ là người khởi xướng mọi hoạt động có tính mục vụ. Nhưng nếu khởi xướng mà không có sự hưởng ứng của giáo dân nói chung và của hiền mẫu nói riêng thì dù sinh hoạt hay đến đâu cũng không mang lại kết quả gì.
- Cộng tác: Giáo dân nói chung và hiền mẫu nói riêng không chỉ được chờ đợi tích cực hưởng ứng các sáng kiến, chương trình, kế hoạch mục vụ mà các linh mục đưa ra mà họ phải cộng tác một cách nhiệt thành với các ngài để các sáng kiến, kế hoạch, chương trình mục vụ được thực hiện trong giáo xứ nhằm lợi ích thiêng liêng của cộng đoàn. Thần học ngày nay nhấn mạnh đến Mầu Nhiệm Hiệp Thông của Hội Thánh. Mầu Nhiệm ấy được cụ thể hóa bằng hình ảnh một Cộng đoàn Giáo Hội trong đó “mọi người có phần và phải góp phần” (Participatory Church) tức mọi người tham gia và cộng tác với nhau để xây dựng và phát triển Hội Thánh!
Kinh nghiệm mục vụ cho thấy số nữ giới có mặt trong các sinh hoạt hội đoàn, học hỏi Thánh Kinh cũng như trong các cử hành Bí Tích Phụng Vụ bao giờ cũng đông và sinh động hơn nam giới. Đó là điều nữ giới đáng tự hào và nên  ra sức duy trì.
- Giúp đỡ: Các linh mục dù có tài giỏi mấy cũng không thể làm hết mọi việc nên cần được giáo dân nói chung và hiền mẫu nói riêng giúp đỡ. Nếu hiểu Giáo Hội là Thân Thể Chúa Ki-tô thì mỗi Ki-tô hữu là chi thể của Chúa và là chi thể của nhau thì sự giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành phần là điều đương nhiên. Mỗi chi thể có trách nhiệm giúp đỡ các chi thề khác hoàn thành vai trò riêng của mình. Các linh mục cần các giáo dân giúp đỡ không chỉ trong lãnh vực giáo xứ mà đôi khi trong cả trong lãnh vực cá nhân riêng tư.  
Kinh nghiệm mục vụ cho thấy sự nhiệt thành của giáo dân là một kho tàng vô giá của Hội Thánh Việt Nam. Có nhiều giáo dân nam nữ đóng góp công sức, tiền của và thời gian cho những công việc chung. Nhưng cũng đã xẩy ra cảnh có những giáo dân muốn được có phần riêng trong giáo xứ. Thậm chí có người còn muốn quản lý cả cha xứ và léo lái các ngài theo ý muốn của mình nữa. Đó là điều không thể chấp nhận.
3./ Cầu nguyện, động viên và góp ý
Điều mong đợi thứ ba mà các linh mục đặt nơi giáo dân nói chung và các hiền mẫu nói riêng là lời cầu nguyện, sự động viên và góp ý. Đó cũng là điều thứ ba mà giáo dân nói chung và hiền mẫu nói riêng có thể và phải làm cho các linh mục trong tình yêu mến.
- Cầu nguyện: Không cần phải nhắc lại tầm quan trọng của cầu nguyện trong đời sống tâm linh cá nhân và đời sống đức tin của cộng đoàn. Ơn Chúa là điều kiện không thể thiếu (sine qua non) của mọi công trình đạo đức thành công. Chính Chúa Giê-su đã tuyên bố: “Không có Thầy chúng con không thể làm được gì” Vì thế việc tối hệ trọng  mà giáo dân nói chung và hiền mẫu nói riêng có thể làm cho các linh mục là cầu nguyện cho các ngài. Cầu nguyện  đi kèm với hy sinh và ăn chay thì càng có hiệu lực trước mặt Chúa.  Cầu nguyện cho các linh mục có được đời sống nội tâm sâu sắc, một sự khôn ngoan trong giảng dậy và quản trị giáo xứ, một lòng nhiệt thành với sự rỗi các linh hốn.
- Động viên: Con người là vật có hồn và xác… nên tình cảm, xúc cảm đều là những yếu tố quan trọng cho cuộc sống. Không phải lúc nào con người cũng giống như lúc nào. Có lúc hăng say thì cũng có lúc lười biếng; có lúc khỏe mạnh thì cũng có lúc yếu đau; có lúc thành công thì cũng có lúc thất bại. Vì thế mà sự động viên đúng thời đúng lúc bằng những lời lẽ tinh tế và thân tình có một giá trị  vô cùng to lớn đối với các linh mục.
- Góp ý: Người ta kể một câu truyện ngụ ý hài hước châm biếm thế này: Trên tòa giảng ở một giáo xứ nọ, linh mục chính xứ hô hào giáo dân đóng góp tiền của, thời gian, công sức cho những công trình của giáo xứ mà ngài đang nỗ lực thực hiện. Nhưng trước khi dứt lời cha xứ bỏ nhỏ một câu làm nhiều người chưng hửng: “Anh chị em muốn góp gì cũng được hoan nghênh hết, nhưng xin anh chị em đừng góp ý! Lời này (không biết có thật sự xẩy ra hay chỉ là chuyện bịa đặt của người kể truyện) có nghĩa là vị linh mục này không muốn lắng nghe sự góp ý của giáo dân. Nhưng thật ra, đón nhận gợi ý và lời khuyên là một trong mười phẩm chất của người lãnh đạo!
4./ Xây dựng mối tương quan “trưởng thành” giữa giáo dân và các vị chủ chăn có chức thánh trong Giáo hội theo Giáo huấn của Công Đồng Va-ti-ca-nô II:
Điều mong đợi thứ bốn mà các linh mục đặt nơi giáo dân nói chung và nơi các hiền mẫu nói riêng là họ có được mối tương quan “trưởng thành” đối với các chủ chăn có chức thánh trong Giáo Hội. Để có được mối tương quan ấy, cả hai bên - giáo sĩ và giáo dân - đều phải có ý thức về quyền lợi và bổn phận của mình. Đó là điều thứ bốn mà giáo dân nói chung và hiền mẫu nói riêng có thể và phải làm cho các linh mục như Công đồng Va-ti-ca-nô II đã dậy: «Như mọi Ki-tô hữu khác, giáo dân cũng có quyền được các chủ chăn có chức thánh ban phát dồi dào ơn trợ lực chứa đựng trong kho tàng thiêng liêng của Giáo hội, đặc biệt là Lời Thiên Chúa và các bí tích. Như con cái Thiên Chúa và như anh em trong Chúa Ki-tô, họ cũng sẽ trình bày với các vị ấy những nhu cầu và khát vọng của mình một cách tự do và tín cẩnNhờ sự hiểu biết, khả năng chuyên môn và uy tín của họ, họ có thể và đôi khi còn có bổn phận phải bày tỏ cảm nghĩ mình về những việc liênquan đến lợi ích của Giáo hội.Họ nên thực hiện điều đó, nếu cần, nhờ vào các cơ quan đã được Giáo hội thiết lập nhằm mục đích ấy; và họ hãy luôn chân thành, can đảm và khôn ngoan, kính trọng và yêu mến những người thay mặt Chúa Ki-tô vì nhiệm vụ thánh của các ngài.”
«Như mọi tín hữu khác, với tinh thần vâng lời của người Ki-tô hữu, giáo dân cũng hãy mau mắn chấp nhận những điều mà các chủ chăn có nhiệm vụ thánh đại diện Chúa Ki-tô, đã quyết định với tư cách những thầy dạy và những nhà lãnh đạo trong Giáo hội; làm như thế, họ đã theo gương Chúa Ki-tô, Ðấng đã vâng lời cho đến chết, để mở đường hạnh phúc của sự tự do con cái Thiên Chúa cho tất cả mọi người. Giáo dân đừng quên dùng lời cầu nguyện phó dâng cho Thiên Chúa các vị lãnh đạo của mình, để các ngài hoan hỷ mà không than vãn thi hành nhiệm vụ chăm sóc linh hồn chúng ta, nhiệm vụ mà các ngài sẽ phải trả lẽ» (x. Dt 13,17).
Một khi giáo dân nói chung và hiền mẫu nói riêng ý thức được quyền lợi và bổn phận của mình đối với các linh mục thì đồng thời cũng là giúp các linh mục ý thức về trách nhiệm của các ngài đối với giáo dân như Thánh Công đồng đã dậy: «Phần các chủ chăn có chức thánh, các ngài phải nhìn nhận và nâng cao phẩm giá và trách nhiệm của giáo dân trong Giáo hội, các ngài nên sẵn sàng chấp nhận những ý kiến khôn ngoan của họ, tin cẩn giao phó cho họ những công tác để họ phục vụ Giáo hội, cho họ tự do và quyền hạn để hành động; hơn nữa, các ngài cũng nên khuyến khích họ tự đảm lấy trách nhiệm. Với tình cha con, các ngài hãy cẩn thận xem xét, trong Chúa Ki-tô, những kế hoạch, thỉnh cầu và khát vọng của họ. Ðàng khác, các chủ chăn phảinhìn nhận và tôn trọng sự tự do chính đáng của mọi người trong lãnh vực trần thế.»
Một khi giữa các linh mục và giáo dân có được mối tương quan hai chiều vừa lành mạnh vừa trưởng thành như Công đồng mong muốn thì «hy vọng rằng, sự liên lạc mật thiết giữa giáo dân và chủ chăn sẽ đem lại rất nhiều lợi ích cho Giáo hội: thực vậy, nhờ sự liên lạc đó, giáo dân ý thức trách nhiệm mình một cách vững vàng hơn; lòng hăng say của họ được phát triển, và họ góp sức dễ dàng hơn vào công việc của các chủ chăn. Phần các chủ chăn, nhờ sự trợ lực kinh nghiệm của giáo dân, các ngài có thể phán đoán minh bạch và đúng đắn hơn về những vấn đề thiêng liêng cũng như trần thế; như vậy, toàn thể Giáo hội được vững mạnh nhờ tất cả mọi chi thể, sẽ chu toàn hữu hiệu hơn sứ mệnh mình đối với sự sống của thế gian.»
(Hiến chế tín lý «Ánh sáng muốn dân», số 37).
5./ Hiền mẫu góp phần riêng của mình
Điều mong đợi cuối cùng mà các linh mục đặt riêng nơi các hiền mẫu là họ góp phần riêng của mình vào đời sống cá nhân và sứ vụ của các linh mục. Họ chẳng những không được dùng sắc đẹp, sự dịu dàng, dễ thương, của cải, lòng nhiệt thành của mình mà lôi cuốn hay quyến rũ các linh mục mà trái lại các Bà các Chị còn phải biết dùng những nét đẹp riêng của người phụ nữ mà làm cho cuộc sống của các linh mục thêm phong phú, cũng như làm cho các công trình mục vụ của cộng đoàn thành công hơn. Với trái tim người mẹ, với sự nhạy cảm của phái yếu, các hiền mẫu giúp các linh mục, nhất là các linh mục trẻ, có được sự quân bình và trưởng thành trong đời sống tình cảm.
Trong giao dịch với các linh mục các hiền mẫu cũng phải hết sức cảnh giác với chính bản thân mình cũng như với các linh mục, để không vô tình tạo ra những cơ hội nguy hiểm cho mình và cho chủ chăn của mình.
3.3 Học gương Chúa Giê-su và Thánh Phao-lô, Tông Đồ Dân Ngoại.
3.3.1 Gương Chúa Giê-su:
Đọc Phúc Âm chúng ta thấy xung quanh Đức Giê-su có nhiều phụ nữ và mỗi người có mối tương quan riêng với Ngài. Thật vậy, ngoài Đức Ma-ri-a là Mẹ Đức Giê-su, còn có nhiều phụ nữ khác đã có mặt chung quanh và trong cuộc sống trần thế của Đức Giê-su. Nói cách vắn gọn và tổng hợp, có những phụ nữ đi theo Đức Giê-su; có những phụ nữ hỗ trợ Đức Giê-su và Nhóm Mười Hai về mặt tài chánh; có những phụ nữ được Đức Giê-su chữa lành, an ủi, bênh vực, thứ tha, đề cao ca ngợi; cũng có những phụ nữ đã là bạn hữu thân thiết của Đức Giê-su. Thậm chí có cả một người phụ nữ có khả năng đàm đạo trao đổi với Đức Giê-su về vấn đề đâu là sự thờ phượng đích thực (trong thần khí và sự thật). Đó là người phụ nữ Sa-ma-ri. Ở cuối sách Phúc âm chúng ta còn thấy có cả một vị nữ tông đồ là người đã được Đức Giê-su giao sứ mạng loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho các tông đồ. Đó là người phụ Bà Ma-ri-a Mác-đa-la.
[Mời đọc thêm bài TỪ NHỮNG PHỤ NỮ CHUNG QUANH ĐỨC GIÊ-SU TRONG BỐN PHÚC ÂM ĐẾN CÁC PHỤ NỮ TRONG GIÁO HỘI CÔNG GIÁO NGÀY NAY]
3.3.2 Gương Thánh Phao-lô Tông Đồ Dân Ngoại:
Nếu không nghiên cứu kỹ và chỉ dựa vào một vài lời khẳng định của Thánh Phao-lô, người ta có thể có cái nhìn sai lạc về quan điểm hay lập trường của Thánh Phao-lô về người phụ nữ. Nhưng khi nghiên cứu kỹ hơn chúng ta sẽ thấy Thánh Phao-lô rất coi trọng phụ nữ. Chỉ xin đưa ra đây hai bằng chứng:
* Bằng chứng thứ nhất: Khi Thánh Phao-lô nói về sự hiện diện của phụ nữ trong cộng đoàn phụng vụ Thánh Phao-lô không chỉ đề cập đến kỷ luật của cộng đoàn mà Ngài còn nêu lên “uy quyền” đặc biệt của các nữ Ki-tô hữu là họ có quyền liên hệ trực tiếp với Thiên Chúa qua trung gian là các thiên thần: “Bởi thế người nữ phải mang trên đầu một uy quyền vì có các thiên thần” (exousia). [CGK PV dịch là: dấu hiệu phục tùng] (1 Cr 11.10).
* Bằng chứng thứ hai: Trong cuộc đời rao giảng Tin Mừng và xây dựng các Cộng Đoàn, Thánh Phao-lô đã có nhiều cộng sự viên là phụ nữ. Trong thư Roma, Ngài viết:
«Xin gửi lời thăm hai chị Tơ-ry-phen và Tơ-ry-phô-xa, những ngừơi đang vất vả trong Chúa Giê-su. Kính chào Chị Pec-xi-đê yêu quý, người đã vất vả nhiều trong Chúa Giê-su. Kính chào anh Ru-phô, người được Chúa chọn, và kính chào thân mẫu của anh, cũng là mẹ của tôi…Tất cả [anh em trong] các Giáo Hội Chúa Ki-tô kính chào các anh chị  em.»(Rm 16, 12-13.16).
Trong khuôn khổ Năm Thánh Phao-lô, Đại học Giáo Hoàng Mariana Roma đã đề xuất một loạt những hội nghị về nữ giới và Ki-tô giáo. Các chuyên gia thần học và chú giải Kinh Thánh đã suy tư về chủ đề  «PHỤ NỮ TRONG [CÁC THƯ] THÁNH PHAO-LÔ VÀ ẢNH HƯỞNG  NỮ GIỚI TRONG LỊCH SỬ và TRONG GIÁO HỘI». Elena Lea Bartolini, giáo sư Kinh Thánh trong nhiều đại học Giáo Hoàng và  nước Ý, giải thích:
«Thánh Phao-lô nói với các phụ nữ ở một xã hội không phải luôn nhìn họ một cách giống nhau. Một trong những quan điểm sai lạc mà chúng ta phải tuyệt đối xem xét lại, đó là tin rằng quan niệm về phụ nữ trong văn hoá Do Thái vào thời đại Thánh Phao-lô là đồng nhất; những luồng tư tưởng khi ấy khác biệt nhau; những ý kiến thường bất đồng với nhau và Thánh Phao-lô xen vào các tranh luận này với quan điểm riêng của Ngài ». Péc-xi-đê, Ma-ri-a, Tơ-ry-phen, Tơ-ry-phô-xa và Giu-li-a là một số trong các phụ nữ phục vụ Giáo Hội, mà Thánh Phao-lô nói tới trong các thư của Ngài. Hãy nghe nhà nữ thần học Cettina Militello: «Những thư đầu tiên của Thánh Phao-lô hé cho thấy một sự tham gia to lớn của các phụ nữ. Danh sách mà chúng ta tìm thấy trong Thư gửi Tín hữu Rô-ma là độc nhất vô nhị trong Tân Ước. Người kể ra cả một loạt những người nữ cộng tác vào Giáo Hội. Thánh Phao-lô nói về họ với rất nhiều cảm tình, nêu tên họ từng người một, chào thăm Giáo Hội đang tụ họp trong nhà của các phụ nữ này… Tất cả điều ấy khác xa với thực tại chúng ta, nhưng cho thấy một kiểu mẫu Giáo Hội nơi mà những người nam và nữ chia sẻ việc loan báo Tin Mừng một cách hiệu quả.”
IV. KẾT LUẬN
Chúng ta có thể rút ra một số ứng dụng thực tế sau đây:
4.1 Nếu với tư cách là giáo dân và là hiền mẫu chúng ta có quyền mong ước điều này điều nọ từ các linh mục thì các linh mục cũng có quyền mong đợi ở chúng ta những điều tương tự.
4.2 Tương quan giữa hai con người được xây dựng và phát triển trên sự tương kính và ngưỡng mộ lẫn nhau. Tương quan ấy còn được xây dựng trên sự hiểu biết và thông cảm với nhau. Tương quan ấy cũng được củng cố bằng những đóng góp cụ thể cho công việc chung của cộng đoàn. 
4.3 Nếu suy nghĩ cho tường tận thì những gì chúng ta thực hiện hay đầu tư cho các linh mục là chúng ta thực hiện hay đầu tư cho chính bản thân, gia đình và giáo xứ của chúng ta.
V. TRAO ĐỔI & CHIA SẺ
5.1  Giáo dân Việt Nam sống quá nặng tình cảm và thường hành xử theo cảm tính. Cách sống ấy tạo ra những khó khăn nào cho các linh mục? và cản trở công việc chung của giáo xứ như thế nào?
5.2 Theo các Bà các Chị, thì các hiền mẫu nên đối xử như thế nào với các linh mục cho vừa hợp với đạo lý vừa đem lại hiệu quả cao nhất cho cộng đoàn. 
 VI. CẦU NGUYỆN KẾT THÚC
(KINH CẦU CHO CÁC LINH MỤC )
 Lạy Chúa Giê-su, là Linh mục đời đời, 
Chúa đã dùng tay các vị Giám mục mà thông ban bảy ơn Thánh Thần Chúa để thánh hóa các linh mục. 
Chúa là mẫu gương độc nhất và sáng tỏ cho hàng linh mục noi theo. 
Xin in sâu người mẫu vào tâm hồn các linh mục để các linh mục được trở nên  những vị Kitô-thứ-hai của Chúa.
Xin Chúa cho các linh mục sống theo ánh sáng Đức Tin chỉ dẫn  và bất cứ trong cảnh ngộ nào  hằng tin vào quyền năng vô cùng của Chúa, biết sống nội tâm,  siêng năng cầu nguyện, lấy Mình Máu Thánh Chúa và Phúc Âm làm của ăn nuôi sống hằng ngày. 
Xin cho các linh mục  thật lòng mến Chúa,  và yêu thương mọi người, hy sinh đời sống mình vì kẻ khác,  luôn luôn  nêu gương mẫu khiêm nhường, khó nghèo, hiền hòa và trong sạch, để mọi người nhìn thấy Chúa Giêsu trong các linh mục.  
Xin cho các linh mục trìu mến và vâng phục Cha chung là Đức Giáo Hoàng, thành tâm cộng tác với Đức Giám mục  là đấng kế vị các Thánh Tông Đồ, luôn luôn đoàn kết với các anh em linh mục  trong việc mở mang nước Chúa.  
Xin cho các linh mục là những chủ chăn nhiệt thành: săn sóc đoàn chiên Chúa, tìm kiếm những chiên thất lạc, chăm nom những chiên bệnh hoạn, chữa lành những chiên đau yếu, nuôi dưỡng chiên  trong đồng cỏ xanh tươi của Chúa.
Xin cho các linh mục  là cha chung đáng quý mến của mọi gia đình, cộng đoàn, hướng dẫn giáo dân trong tình phụ tử, lấy Phụng vụ và Lời Chúa làm của ăn nuôi dưỡng cộng đoàn, để mọi người trong cộng đoàn  hăng say cộng tác xây dựng nước Chúa.   
Lạy Mẹ Ma-ri-a,
là Mẹ hàng giáo sĩ  xin cho hàng giáo sĩ hằng yêu mến Mẹ.  
Xin Mẹ nâng đỡ linh mục khi có ai yếu đuối,  ủi an khi sầu khổ, khuyến khích khi thua buồn, để các ngài luôn luôn phấn khởi  làm tròn nghĩa vụ linh mục. A-men.
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội
Sàigòn ngày 22 tháng 07 năm 2009
Lễ Thánh Nữ Maria Magđalêna
 
PHẦN THỨ HAI 
TỪ NHỮNG PHỤ NỮ CHUNG QUANH ĐỨC GIÊ-SU TRONG BỐN PHÚC ÂM  ĐẾN VỊ TRÍ VAI TRÒ PHỤ NỮ TRONG GIÁO HỘI NGÀY NAY
I. NHỮNG PHỤ NỮ CHUNG QUANH ĐỨC GIÊ-SU TRONG BỐN PHÚC ÂM
Mở đầu
Nếu chúng ta đọc Phúc Âm với mối quan tâm xem chung quanh Đức Giê-si có những phụ nữ nào, chúng ta sẽ khám phá ra nhiều điều rất lý thú. Chúng ta sẽ thấy các nhân vật nữ có những gương mặt rất đa dạng và có một vai trò quan trọng trong cuộc sống trần gian của Đức Giêsu. Sau đây, chúng ta sẽ nêu lên một số người tiêu biểu.
Trình bày: Những Phụ Nữ chung quanh Đức Giê-su trong bốn Phúc Âm
1. Đức Ma-ri-a, Mẹ Đức Giê-su
Là người phụ nữ đầu tiên đáng chúng ta để ý. Ma-ri-a, một thiếu nữ trinh trong, thánh thiện đã được Thiên Chúa chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế khi ngài đả kết hôn với Giu-se. Khi nghe Thiên Sứ trình bày đề nghị của Thiên Chúa, Ma-ri-a không khỏi thắc mắc và đã thẳng thắn nói lên suy nghĩ của mình. Khi thắc mắc được giải tỏa, Ma-ri-a đáp lại sự chọn lựa của Thiên Chúa bằng một«Lời Xin Vâng bất hủ »:
“Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38).
Ma-ri-a đã sinh hạ, nuôi dưỡng, dậy dỗ Đức Giê-su  nên người. Mẹ đã đi theo Con trên cánh đồng rao giảng Nước  Trời, cho đến tận chân cây thập tự giá trên đồi Núi Sọ và đến nhà tiệc ly để cùng các đồ đệ của con đón nhận Thánh Thần mà Con gửi đến ! Mẹ không bao giờ  cản trở công việc và sứ mạng của Con. Trái lại Mẹ không chỉ là Mẹ mà còn là người cộng sự và là môn đệ hoàn hảo nhất của Con.
2. Bà Ê-li-sa-bét, Mẹ Gio-an Tiền Hô
Là vợ ông Gia-ca-ri-a, Mẹ của Gio-an Tẩy Giả (Lc 1,5-25), chị em họ với Đức Ma-ri-a. Bà là người có con trong tuổi già do sự can thiệp đặc biệt của Thiên Chúa. Bà đã được Đức Ma-ri-a đến viếng thăm khi hai người cùng đang mang thai (Lc 1,39-45). Lời chúc tụng của Bà dành cho người em họ là Ma-ri-a đã là một trong những trang đẹp nhất của Thánh Kinh Tân Ước.
“Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc.  Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này ? Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng.  Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em” (Lc 1,42-45).
3. Bà Ngôn sứ An-na
Là một bà góa tám mươi tư tuổi. Sau khi chồng qua đời, Bà sống không rời Đền Thờ, những ăn chay cầu nguyện, sớm hôm thờ phượng Thiên Chúa. Vào đúng lúc cha mẹ Đức Giê-su dâng Con trong Đền Thờ, Bà xuất hiện bên cạnh Hài Nhi cảm tạ Thiên Chúa và nói về Hài Nhi cho những ai đang mong chờ ngày Thiên Chúa cứu chuộc Giê-ru-sa-lem (Lc 2,36-38).
4. Những người phụ nữ đi theo Đức Giê-su.
Phúc âm ghi lại như sau :
«Sau đó, Đức Giê-su rảo qua các thành phố, làng mạc, rao giảng và loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Cùng đi với Người, có Nhóm Mười Hai  và mấy người phụ nữ đã được Người trừ quỷ và chữa bệnh. Đó là bà Ma-ri-a gọi là Ma-ri-a Mác-đa-la, người đã được giải thoát khỏi bảy quỷ,  bà Gio-an-na, vợ ông Khu-da quản lý của vua Hê-rô-đê, bà Su-san-na và nhiều bà khác nữa. Các bà này đã lấy của cải mình mà giúp đỡ Đức Giê-su và các môn đệ » (Lc 8,1-3).
Trong số các phụ nữ đi theo Đức Giê-su có những người đã theo Người tới cùng tức là đồng hành với Người trên con đường đi lên Giê-ru-sa-lem, an ủi động viên, thậm chí lau mặt cho Đức Giê-su. Trên đồi Can-về chiều hôm Người chịu nạn chịu chết, người ta không thấy bóng dáng các môn đệ thân thiết của Người đâu cả (trừ Gio-an) :
«Nhưng cũng có mấy phụ nữ đứng xa xa mà nhìn, trong đó có bà Ma-ri-a Mác-đa-la, bà Ma-ri-a mẹ các ông Gia-cô-bê Thứ và Giô-xết, cùng bà Sa-lô-mê.  Các bà này đã đi theo và giúp đỡ Đức Giê-su khi Người còn ở Ga-li-lê. Lại có nhiều bà khác đã cùng với Người lên Giê-ru-sa-lem, cũng có mặt tại đó.» (Mc 15,40-41).
Ba bà có tên ở trên cũng là những phụ nữ đem dầu thơm ra mồ vào sáng ngày thứ nhất trong tuần, có ý để ướp xác Chúa (Mc 16,1-2).
5. Những người phụ nữ hỗ trợ Đức Giê-su và Nhóm Mười Hai về mặt tài chánh.
Cả Mác-cô cả Lu-ca đều ghi lại việc các phụ nữ giúp đỡ Đức Giê-su và Nhóm Mười Hai về mặt tài chánh như chúng ta vừa thấy ở trên. Thật thế Đức Giê-su và Nhóm Mười Hai sống cuộc sống rao giảng nay đây mai đó thì chắc chắn phải có nguồn tài trợ «ổn  định» mới sống như thế được. Ngoài ra Phúc âm còn cho ta thấy Đức Giê-su đã được nhiều người mời đến nhà ăn tiệc. Ngày nay nhiều nhà nghiên cứu Thánh Kinh quả quyết rằng : Đức Giê-su không chỉ được người khác mời dự tiệc, mà chính Ngài cũng cũng đã nhiều lần tổ chức bữa tiệc và đứng ra mời « bạn bè » chung vui với Ngài bên cạnh bình rượu, bên mâm thịt trên bàn ăn, vì đó là nét văn hóa của người Phương Đông chúng ta. Hơn nữa theo phong tục Phương Đông thì bữa ăn có tầm quan trọng rất lớn vượt xa giá trị vật chất. Bữa ăn là giao lưu, giao kết, là hiệp thông. Chính vì thế mà Đức Giê-su đã trình bày Nước Trời như một đại yến tiệc. Vậy thì chúng ta có thể kết luận: Để Thày trò Đức Giê-su sống nay đây mai đó suốt 3 năm trời và để có thể tổ chức được các bữa tiệc thềt đãi và đáp lễ bạn bè, Đức Giê-su đã phải nhờ đến sự hỗ trợ tài chánh của một số phụ nữ, như các Phúc Âm đã ghi lại.
6. Những người phụ nữ được Đức Giê-su chữa lành.
Đức Giê-su đã chữa lành nhiều phụ nữ kể cả bà mẹ vợ của ông Phê-rô (Mt 8,14). Trong số các người được Đức Giê-su chữa bệnh có trường hợp của người phụ nữ bị bệnh băng huyết (Lc 8,40-48) là một câu truyện rất cảm động vì tính cách tinh tế của nó.
7. Những người phụ nữ được Đức Giê-su an ủi.
Chúng ta có Bà góa thành Na-im đang khóc than đứa con trai duy nhất vừa mới lìa trần ở tuổi thanh xuân. Trên đường đưa con đi mai táng thì bà gặp Đức Giê-su. « Chạnh lòng thương cảm » với hoàn cảnh của Bà, Đức Giê-su đã làm cho chàng thanh niên sống lại « và trao anh ta cho Bà mẹ » (Lc 7,11-17).
Chúng ta còn có câu truyện khác cũng rất cảm động : Đó là câu truyện Đức Giê-su làm cho La-da-rô đã chết được ba ngày sống lại, để an ủi hai chị em Mat-ta và Ma-ri-a  là những người bạn thân thiết vào bậc nhất của Người (Ga 11,1-44).
Có một chi tiết quan trọng là sau «phép lạ này» thì người Do Thái càng dứt khoát khoại trừ Đức Giê-su ra khỏi cuộc sống (Ga 11,45-54).
8. Những người phụ nữ được Đức Giê-su bênh vực và thứ tha.
Có nhiều phụ nữ được Đức Giê-su lên tiếng hay ra tay bênh vực. Nổi bật nhất là người phụ nữ bị bắt quả tang ngoại tình (Ga 8,2-11). Nếu như không có sự can thiệp tế nhị của Ngài :
«Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi » (Ga 8,7), thì chắc chị đã bị các kinh sư và người Pha-ri-sêu ném  đá  chết rồi ! Đức Giê-su đã chẳng những cứu sống chị mà còn thứ tha cho chị nữa:
«Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu ! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa ! »  (Ga 8,11)
9. Những người phụ nữ được Đức Giê-su đề cao ca ngợi.
Điển hình nhất là Bà góa nghèo khổ bỏ hai đồng tiền kẽm (trị giá một phần tư đồng bạc Rô-ma) vào  thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ Giê-ru-sa-lem:
«Thầy bảo thật anh em : bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết.  Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó ; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình» (Mc 12,43-44).
10. Người phụ nữ đã có «cuộc trao đổi thần học» với Đức Giê-su.
Đó là người phụ nữ Sa-ma-ri (Ga 4,4-42). Chúng ta thường hiểu sai về nhân vật nữ độc đáo này. Lời nói «Tôi không có chồng» (Ga 4,17) và «Chị đã có 5 đời chồng» (4,18) từ trước đến giờ thường được chúng ta hiểu là những người đàn ông sống với chị phụ nữ Sa-ma-ri này. Nhưng ngày nay nhiều nhà chú giải Thánh Kinh nghiêng về cắt cách nghĩa khác: Chữ «chồng» ở trong hai câu trích dẫn trên không có ý ám chỉ những người đàn ông đã chung sống với chị phụ nữ Sa-ma-ri kia, mà có ý ám chỉ các thần ngoại giáo mà người xứ Sa-ma-ri – trong đó có chị phữ nữ- đã sùng bái tôn thờ. Hiều như thế chúng ta thấy phần đầu và phần cuối của cuộc đối thoại giữa Đức Giê-su và chị phụ nữ Sa-ma-ri ăn khớp với nhau hơn. Vì hai người đã trao đổi với nhau về một vấn đề rất cao siêu (mà ngày nay chúng ta có thể nói là vấn đề thần học) là việc thờ phượng Thiên Chúa, việc thờ phượng đích thực. Chúng ta cũng thấy sự liền lạc về nội dung của chương 3 và chương 4 : Trong chương 3, Đức Giê-su trao đổi với ông Ni-cô-đê-mô, một trí thức Do Thái giáo về sự tái sinh bằng nước và Thánh Thần. Trong chương 4 Đức Giê-su tranh luận với người phụ nữ Sa-ma-ri về nước hằng sống, về việc và nơi thờ phượng đẹp lòng Thiên Chúa. Chúng ta hãy đọc lại cả câu truyện độc đáo này trong cái nhìn mới về chú giải như vừa được trình bày:
«Do đó, Người phải băng qua Sa-ma-ri. Vậy, Người đến một thành xứ Sa-ma-ri, tên là Xy-kha, gần thửa đất ông Gia-cóp đã cho con là ông Giu-se. Ở đấy, có giếng của ông Gia-cóp. Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng. Lúc đó vào khoảng mười hai giờ trưa.
«Có một người phụ nữ Sa-ma-ri đến lấy nước. Đức Giê-su nói với người ấy: “Chị cho tôi xin chút nước uống!” Lúc đó, các môn đệ của Người đã vào thành mua thức ăn. Người phụ nữ Sa-ma-ri liền nói: “Ông là người Do-thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước uống sao?” Quả thế, người Do Thái không được giao thiệp với người Sa-ma-ri. Đức Giê-su trả lời: “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị: “Cho tôi chút nước uống”, thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống.” Chị ấy nói: “Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống? Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ chúng tôi là Gia-cóp, người đã cho chúng tôi giếng này ? Chính Người đã uống nước giếng này, cả con cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy.” Đức Giê-su trả lời: “Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.”
Người phụ nữ nói với Đức Giê-su: “Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước.” Người bảo chị ấy: “Chị hãy gọi chồng chị, rồi trở lại đây.” Người phụ nữ đáp: “Tôi không có chồng.” Đức Giê-su bảo: “Chị nói: ‘Tôi không có chồng’ là phải, vì chị đã năm đời chồng rồi, và người hiện đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị đã nói đúng.”  Người phụ nữ nói với Người: “Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ … Cha ông chúng tôi đã thờ phượng Thiên Chúa trên núi này; còn các ông lại bảo: Giê-ru-sa-lem mới chính là nơi phải thờ phượng Thiên Chúa.” Đức Giê-su phán : “Này chị, hãy tin tôi: đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lem. Các người thờ Đấng các người không biết; còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ phát xuất từ dân Do Thái. Nhưng giờ đã đến – và chính là lúc này đây – giờ những ngườithờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật.”  Người phụ nữ thưa: “Tôi biết Đấng Mê-si-a, gọi là Đức Ki-tô, sẽ đến. Khi Người đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự.” Đức Giê-su nói : “Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây.” (Ga 4,4-26).
11. Những người phụ nữ đã là bạn bè thân thiết của Đức Giê-su.
Đó là Mác-ta và Ma-ri-a, hai chị em sống ở Bê-ta-ni-a. Nhà của họ là một trong những nơi  Đức Giê-su thường lui tới, để nghỉ ngơi, trò chuyện. Mỗi lần Ngài tới thì hai chị em đón tiếp Ngài chân thành và nhiệt tình. Nhưng mỗi người có cách riêng của mình như chúng ta thấy trong đoạn Phúc âm Lc 10,38-42 sau :
«Trong khi Thày trò đi đường, Đức Giê-su vào làng kia. Có một người phụ nữ tên là Mác-ta đón Người vào nhà. Cô có người em gái tên là Ma-ri-a. Cô này cứ ngồi bên chân Chúamà nghe lời Người dạy.  Còn cô Mác-ta thì tất bật lo việc phục vụ. Cô tiến lại mà nói: “Thưa Thày, em con để mình con phục vụ, mà Thày không để ý tới sao?” Xin Thày bảo nó giúp con một tay!”  Chúa đáp: “Mác-ta, Mác-ta ơi! Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá!  Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Ma-ri-a đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bi lấy đi.»
Nhưng nhờ vào một câu truyện khác mà chúng ta có thể hình dung mối quan hệ  giữa Đức Giê-su và gia đình Bê-ta-ni-a này đậm đà sâu sắc như thế nào. Đó là cấu truyện người em trai của hai người phụ nữ ấy là La-da-rô bị bệnh chết mà Đức Giê-su không có mặt ở đó, dù rằng mấy ngày trước họ đã cho người đi «gọi» Đức Giê-su về (Ga 11,1-44). Chúng ta thấy như trong cơn buồn khổ cùng cực Mác-ta đã dám trách cả Đức Giê-su, nhưng chỉ là «trách yêu» thôi
“Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết.” (câu 21).
Nhưng chúng ta phải đọc lại cả câu truyện thì mới thấy hết được sự thân thiết giữa Đức Giê-su và những con người này:
«Có một người bị đau nặng, tên là La-da-rô, quê ở Bê-ta-ni-a, làng của hai chị em cô Mác-ta và Ma-ri-a. Cô Ma-ri-a là người sau này sẽ xức dầu thơm cho Chúa, và lấy tóc lau chân Người. Anh La-da-rô, người bị đau nặng, là em của cô. Hai cô cho người đến nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, người Thầy thương mến đang bị đau nặng.” Nghe vậy, Đức Giê-su bảo : “Bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa: qua cơn bệnh này, Con Thiên Chúa được tôn vinh.”
«Đức Giê-su quý mến cô Mác-ta, cùng hai người em là cô Ma-ri-a và anh La-da-rô.
«Tuy nhiên, sau khi được tin anh La-da-rô lâm bệnh, Người còn lưu lại thêm hai ngày tại nơi đang ở.  Rồi sau đó, Người nói với các môn đệ : “Nào chúng ta cùng trở lại miền Giu-đê!” Các môn đệ nói : “Thưa Thầy, mới đây người Do Thái tìm cách ném đá Thầy, mà Thầy lại còn đến đó sao?”  Đức Giê-su trả lời: “Ban ngày chẳng có mười hai giờ đó sao ? Ai đi ban ngày thì không vấp ngã, vì thấy ánh sáng mặt trời. Còn ai đi ban đêm, thì vấp ngã vì không có ánh sáng nơi mình !”
«Nói những lời này xong, Người bảo họ: “La-da-rô, bạn của chúng ta, đang yên giấc ; tuy vậy, Thầy đi đánh thức anh ấy đây.” Các môn đệ nói với Người:  “Thưa Thầy, nếu anh ấy yên giấc được, anh ấy sẽ khoẻ lại.”  Đức Giê-su nói về cái chết của anh La-da-rô, còn họ tưởng Người nói về giấc ngủ thường.   Bấy giờ Người mới nói rõ: “La-da-rô đã chết.  Thầy mừng cho anh em, vì Thầy đã không có mặt ở đó, để anh em tin. Thôi, nào chúng ta đến với anh ấy.”  Ông Tô-ma, gọi là Đi-đy-mô, nói với các bạn đồng môn : “Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đi để cùng chết với Thầy !”
«Khi đến nơi, Đức Giê-su thấy anh La-da-rô đã chôn trong mồ được bốn ngày rồi. Bê-ta-ni-a cách Giê-ru-sa-lem không đầy ba cây số.  Nhiều người Do Thái đến chia buồn với hai cô Mác-ta và Ma-ri-a, vì em các cô mới qua đời. Vừa được tin Đức Giê-su đến, cô Mác-ta liền ra đón Người. Còn cô Ma-ri-a thì ngồi ở nhà. Cô Mác-ta nói với Đức Giê-su: “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết. Nhưng bây giờ con biết : Bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người cũng sẽ ban cho Thầy.”  Đức Giê-su nói : “Em chị sẽ sống lại!” Cô Mác-ta thưa : “Con biết em con sẽ sống lại, khi kẻ chết sống lại trong ngày sau hết.”  Đức Giê-su liền phán: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết. Chị có tin thế không?” Cô Mác-ta đáp: “Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian.”
Nói xong, cô đi gọi em là Ma-ri-a, và nói nhỏ : “Thầy đến rồi, Thầy gọi em đấy!”   Nghe vậy, cô Ma-ri-a vội đứng lên và đến với Đức Giê-su. Lúc đó, Người chưa vào làng, nhưng vẫn còn ở chỗ cô Mác-ta đã ra đón Người. Những người Do Thái đang ở trong nhà với cô Ma-ri-a để chia buồn, thấy cô vội vã đứng dậy đi ra, liền đi theo, tưởng rằng cô ra mộ khóc em.
Khi đến gần Đức Giê-su, cô Ma-ri-a vừa thấy Người, liền phủ phục dưới chân và nói: “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết.” Thấy cô khóc, và những người Do-thái đi với cô cũng khóc, Đức Giê-su thổn thức trong lòng và xao xuyến. Người hỏi: “Các người để xác anh ấy ở đâu?” Họ trả lời: “Thưa Thầy, mời Thầy đến mà xem.”  Đức Giê-su liền khóc. Người Do-thái mới nói: “Kìa xem ! Ông ta thương anh La-da-rô biết mấy!” Có vài người trong nhóm họ nói: “Ông ta đã mở mắt cho người mù, lại không thể làm cho anh ấy khỏi chết ư?” Đức Giê-su lại thổn thức trong lòng. Người đi tới mộ. Ngôi mộ đó là một cái hang có phiến đá đậy lại. Đức Giê-su nói : “Đem phiến đá này đi.” Cô Mác-ta là chị người chết liền nói: “Thưa Thầy, nặng mùi rồi, vì em con ở trong mồ đã được bốn ngày.” Đức Giê-su bảo : “Nào Thầy đã chẳng nói với chị rằng nếu chị tin, chị sẽ được thấy vinh quang của Thiên Chúa sao?” Rồi người ta đem phiến đá đi. Đức Giê-su ngước mắt lên và nói: “Lạy Cha, con cảm tạ Cha, vì Cha đã nhậm lời con. Phần con, con biết Cha hằng nhậm lời con, nhưng vì dân chúng đứng quanh đây, nên con đã nói để họ tin là Cha đã sai con.” Nói xong, Người kêu lớn tiếng: “Anh La-da-rô, hãy ra khỏi mồ!”  Người chết liền ra, chân tay còn quấn vải, và mặt còn phủ khăn. Đức Giê-su bảo: “Cởi khăn và vải cho anh ấy, rồi để anh ấy đi.”
Trong số những người Do Thái đến thăm cô Ma-ri-a và được chứng kiến việc Đức Giê-su làm, có nhiều kẻ đã tin vào Người. Nhưng lại có những người đi gặp nhóm Pha-ri-sêu và kể cho họ những gì Đức Giê-su đã làm. Vậy các thượng tế và các người Pha-ri-sêu triệu tập Thượng Hội Đồng và nói : “Chúng ta phải làm gì đây ? Người này làm nhiều dấu lạ. Nếu chúng ta cứ để ông ấy tiếp tục, mọi người sẽ tin vào ông ấy, rồi người Rô-ma sẽ đến phá huỷ cả nơi thánh của ta lẫn dân tộc ta.”  Một người trong Thượng Hội Đồng tên là Cai-pha, làm thượng tế năm ấy, nói rằng: “Các ông không hiểu gì cả,  các ông cũng chẳng nghĩ đến điều lợi cho các ông là : thà một người chết thay cho dân còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt.” Điều đó, ông không tự mình nói ra, nhưng vì ông là thượng tế năm ấy, nên đã nói tiên tri là Đức Giê-su sắp phải chết thay cho dân,  và không chỉ thay cho dân mà thôi, nhưng còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối. Từ ngày đó, họ quyết định giết Đức Giê-su. Vậy Đức Giê-su không đi lại công khai giữa người Do-thái nữa; nhưng từ nơi ấy, Người đến một vùng gần hoang địa, tới một thành gọi là Ép-ra-im. Người ở lại đó với các môn đệ» (Ga 11,1-54).
12. Những người phụ nữ được Đức Giê-su giao sứ mạng loan báo Tin Mừng
Ma-ri-a Mác-đa-la là người đầu tiên đã được Đức Giê-su Ki-tô Phục Sinh hiện ra. Chị cũng là người đầu tiên có vinh dự được Chúa giao sứ mệnh cao cả là loan báo Chúa Ki-tô Phục Sinh cho các tông đồ:
«Thôi, đừng giữ Thầy lại, vì Thầy chưa lên cùng Chúa Cha. Nhưng hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ: ‘Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em’.”  Bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi báo cho các môn đệ : “Tôi đã thấy Chúa”, và bà kể lại những điều Người đã nói với bà »  (Ga 20,17-18).
Chúng ta có thể thắc mắc: Tại sao Đức Giê-su Ki-tô Phục Sinh không giao vinh dự lớn lao ấy cho Mẹ Ma-ri-a hay cho Gio-an, người môn đệ «cưng» của Thầy mà lại giao cho Ma-ri-a Ma-đa-la?
Kết luận
Sau khi lược qua một số GƯƠNG MẶT PHỤ NỮ TIÊU BIỂU trong Phúc Âm, chúng ta thấy thật đa dạng, phong phú. Điều đặc biệt đáng chúng ta ghi nhận là với các phụ nữ, Đức Giê-su không có  vấn đề như với các tông đồ. Phê-rô và các bạn ông đã nhiều lần can gián Đức Giê-si một cách « vô duyên» hoặc đã nhiều lần tỏ ra hám danh, hám lợi, hám quyền, hám địa vị và ghen tỵ tức tối với nhau về những chuyện ấy. Còn các phụ nữ thì có một vai trò ấm thầm khiêm tốn hơn, nhưng gần gũi thân thiết với Đức Giê-su  không kém. Trong một nền văn hóa « trọng nam khinh nữ »  như thời Đức Giê-su mà Người dành cho các phụ nữ  một mối tương quan như thế thì quả là Người rất «cách mạng». Hơn bất cứ tôn giáo nào khác, Ki-tô giáo đã đặt nền tảng vững chắc và đã đóng góp phần hết sức quan trọng và to lớn cho công cuộc GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ trong thế giới loài người.
II. VỊ TRÍ & VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG GIÁO HỘI NGÀY NAY
Vừa dựa vào Phúc Âm vừa dựa vào thực tế sinh động của các Cộng đoàn Giáo xứ, chúng ta có thể nêu lên một vài SUY TƯ về vị trí và vai trò của phụ nữ trong Giáo Hội ngày nay, như sau :
1. Là những người đi theo Chúa
Cũng như các phụ nữ Ít-ra-en xưa, quí Bà, quí Chị ngày này cũng là những người đi theo Đức Giê-su. Theo Đức Giê-su với tư cách là tín hữu giáo dân. Là tín hữu giáo dân cũng là môn đệ của Chúa Giê-su. Mà là  môn đệ thì mang hai nhiệm  vụ: sống mật thiết với Chúa và tham gia vào sứ mạng loan báo Tin Mừng Nước Trời của Chúa. Nếu quí Bà, quí Chị còn được giao một trọng trách nào đó trong Hội đoàn hay trong Giáo xứ, thì tính cách môn đệ càng rõ hơn.
2. Là những người lắng nghe Lời Chúa
Là môn đệ của Thầy Giê-su thì điều đầu tiên là chúng ta phải biết nghe Lời Thầy. Vậy chúng ta thử hỏi :
* Chúa nói với chúng ta ở đâu ? – Chúa nói với chúng ta ở khắp mọi nơi, vì Thiên Chúa ở khắp mọi nơi, Chúa Giê-su Ki-tô Phục Sinh ở khắp mọi nơi. Chúa còn nói với chúng ta trong Thánh Kinh, trong Giáo Hội, trong các Bí Tích, trong cộng đoàn và trong cuộc  đời.
* Chúa nói với chúng ta khi nào? Chúa có thể nói với chúng ta bất cứ lúc nào, kể cả khi chúng ta không để ý, không quan tâm, không ngờ ! Chúa cũng thường nói cách đặc biệt với chúng ta  trong những dịp Tĩnh Tâm Mùa Vọng Mùa Chay, trong những dịp Hành Hương.
* Chúa nói với chúng ta qua ai, qua đâu? – Chúa nói  với chúng ta qua các vị lãnh đạo Dân Chúa, qua cộng đoàn, qua tha nhân đồng loại – nhất là qua những người nghèo đói túng thiếu cần đến sự giúp đỡ của chúng ta. Chúa còn nói với chúng ta qua các biến cố xẩy ra trong đời sống cá nhân, gia đình và cộng đoàn.
3. Là những người được Chúa quan tâm, an ủi, chữa lành
Chúa Giê-su đã đối xử với các phụ nữ cùng thời với Người thế nào, thì cũng đối xử với các phụ nữ mọi thời mọi nơi như thế. Nếu quí Bà, quí Chị cần được Chúa Giê-su quan tâm, an ủi, chữa lành thì hãy chạy đến với Người. Người sẵn sàng lắng nghe, chia sẻ, cảm thông và giúp đỡ.
4. Là những người bạn thân thiết của Chúa
Mọi thời mọi nơi Đúc Giê-su đều muốn có những người bạn tâm tình có thể chia sẻ tâm tư nguyện vọng với nhau, chia  sẻ trách nhiệm và sứ mạng của nhau. Người mời gọi chúng ta, nam cũng như nữ, trở thành bạn hữu của Người. Trong lịch sử Giáo Hội, ở bất cứ giai đoạn nào, chúng ta cũng thấy có những người phụ nữ được Chúa chọn làm bạn thân thiết (là các vị thánh).
Tôi xin kể về một người phụ nữ Pháp, có tên là Marthe Robin, mới chết cách đây khoảng trên dưới mười năm. Suốt mấy chục năm trời, Bà không thể ăn uống một thứ gì mà vẫn sống. Bà chỉ có mỗi của ăn là Mình Thánh Chúa. Nhiều lần được rước Thánh Thể Bà ngây ngất (extase) như sống trong một thế giới thần linh. Có những lần Bà mới há miệng, linh mục chưa kịp đưa Mình Thánh Chúa vào miệng Bà thì Mình Thánh Chúa đã rời khỏi tay vị linh mục mà bay vào miệng Bà. Vào những năm cuối đời Bà được Chúa in dấu đinh trên tay, chân và cạnh sườn. Vòng quanh đầu Bà có mạo gai. Chúa cho Bà tham dự vào Cuộc Thương Khó vào mỗi ngày thứ sáu trong tuần. NHững ngày ấy Bả bị cực hình hành hạ, máu rỉ ra từ năm dấu đinh ở chân tay và ngực… Bà sống yên một chỗ nhưng được Chúa cho biết rất nhiều chuyện xẩy ra trên thế giới, kể cả những chuyện của tương lai, những biến chuyển chính trị. Chúa còn để Bà thường xuyên bị ma quỉ hành hạ. Chúng hành hạ Bà đủ thứ dủ kiểu. Nhiều lần chúng ném Bà từ trên giường xuống nền nhà…
5. Là những người hỗ trợ Chúa về phương diện tài chánh trong công cuộc loan báo Tin Mừng
Công cuộc rao giảng Tin Mừng thời xưa cũng như thời nay đều cần có những nguồn tài chánh. Nhiều phụ nữ thời Đức Giê-su đã tích cực giúp đỡ Chúa. Ngày nay bao công trình của Giáo Hội cũng vẫn được những tấm lòng phụ nữ nâng đỡ như thế. Không hiểu tại sao ở giáo phận này, hễ nói tới các Bà Mẹ Công Giáo là các bạn tôi nhắc đến chuyện «vận động hầu bao» của  quí Bà, quí Chị. Nhưng dù sao thì việc đóng góp tiền bạc của quí Bà  quí Chị cho những việc chung (xây nhà thờ, giúp chủng viện, giúp các điểm truyền giáo, cứu trợ lũ lut thiên tai) đều có giá trị rất lớn trước mặt Chúa, miễn chúng ta «cho» với động cơ tốt, với ý ngay lành, «cho thì tốt hơn nhận» mà !
6. Là những người được giao sứ mạng loan báo Tin Mừng Phục Sinh của Chúa
Việc Chúa Giê-su hiện ra lần đầu tiên không phải với các tông đồ Phê-rô (thủ lãnh) hay Gio-an (môn đệ cưng) mà với Bà Ma-ri-a Mác-đa-la phải là sự kiện đáng chúng ta suy  nghĩ. Ma-ri-a Mác-đa-la là người phụ nữ đã được Chúa trừ quỉ và đã một lòng gắn bó với Chúa từ đó. Chúa còn ban cho Bà vinh dự lớn lao là báo tin Phục Sinh cho các tông đồ.
Ở đây chúng ta thấy dường như Đức Giê-su dùng cả hai kênh thông tin để loan báo Tin Mừng : Kênh «chính thức» là kênh các tông đồ. Còn một kênh khác mang tình «tư riêng» bạn bè thân thiết, chí cốt. Kênh thứ hai này lại có trước kênh thứ nhất !
Vậy thì chúng ta có thể quả quyết rằng: «Đức Giê-su đã giao việc loan báo Tin Mừng Phục Sinh, Tin Mừng Cứu Độ cho phái nữ. Người giao ngay khi hiện ra lần đầu tiên sau khi sống lại từ cõi chết » Vinh dự thay !
Kết luận
Hy vọng bài trình bày trên giúp ích cho quí Bà, quí Chị trong Hội Hiền Mẫu (các Bà Mẹ Công Giáo). Cũng hy vọng là nó giúp các Bà các Chị công giáo ở các nơi khác. Cũng hy vọng nó giúp ích cho cả phái Nam, kể cả các linh mục. Vì Phúc Âm đã cho thấy bên cạnh Đức Giê-su và trong cuộc đời của Người, đã có những phụ nữ góp phần rất quan trọng cho công cuộc loan báo và đón nhận Tin Mừng. Sự kiện đó đòi mỗi người chúng ta – nữ cũng như nam- phải xem xét lại cách suy nghĩ và hành động của mình mà điều chỉnh cho phù hợp hơn với cách sống và hành xử của Thiên Chúa làm người là Đức Giê-su Ki-tô!
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội
Sàigòn ngày 15 tháng 12 năm 1998

Các bài đã đăng:

Các tin đã đưa ngày